Kiểm toán viên sử dụng kỹ thuật kiểm toán hỗ trợ bằng máy tính (CAATs): Thách thức và Cơ hội


Công nghệ thông tin đã phổ biến rộng rãi trong môi trường kinh doanh toàn cầu trong nhiều thập kỷ, đặc biệt với sự thay đổi nhanh chóng về nhu cầu của khách hàng. Là một ngành sử dụng nhiều lao động, kiểm toán đòi hỏi sự nhất quán và hiệu quả để tăng năng suất của kiểm toán viên trong suốt quá trình kiểm toán. Do đó, việc sử dụng công nghệ thông tin trong quy trình kiểm toán sẽ giúp tăng năng suất, cung cấp thông tin liên lạc nhanh hơn và đảm bảo dữ liệu của khách hàng. Xu hướng kiểm toán gần đây đã đặt ra các quy tắc gây áp lực lớn hơn cho các công ty kiểm toán trở nên hiệu quả và sẵn sàng cạnh tranh về giá. Vì vậy, chủ đề kiểm toán viên sử dụng kỹ thuật kiểm toán hỗ trợ bằng máy tính (CAATs) được quan tâm nhiều không chỉ bởi các kiểm toán viên mà còn bởi các bên liên quan.

1. Giới thiệu

Những thay đổi không ngừng trong giới kinh doanh bị cáo buộc bởi cuộc cách mạng công nghệ và thông tin hiện tại. Các tác vụ dựa trên máy tính đã thay thế thành công công việc dựa trên giấy trong phần lớn các tổ chức kinh doanh hiện nay. Kiểm toán là một trong những lĩnh vực chứng kiến sự thay đổi lớn. Kiểm toán dựa trên giấy cũng đã được thay thế bằng kiểm toán dựa trên máy tính, tuy nhiên nó vẫn tồn tại và được một số công ty sử dụng.

Để được đảm bảo, cho phép kiểm toán viên (KTV) phát hành dữ liệu kế toán chất lượng cao cũng như đưa ra quyết định, đồng thời điều quan trọng là phải có và dựa vào dữ liệu chất lượng tồn tại trên thời gian thực. Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này đảm bảo rằng, dữ liệu thời gian thực là điều cần thiết cho tính chính xác của các kết quả trong lĩnh vực kiểm toán. Khi KTV có được dữ liệu điện tử, họ có thể xử lý nó một cách linh hoạt hơn (Chang et al. 2008). Dữ liệu này chắc chắn có thể truy cập được, cô đọng và được tổ chức theo cách tốt hơn so với dữ liệu kế toán dựa trên giấy. Những nghiên cứu trong lĩnh vực kiểm toán cho thấy rằng, các công nghệ thông tin thúc đẩy các công ty thực hiện các giao dịch của họ bằng điện tử. Họ sẽ phát hành báo cáo tài chính điện tử và trực tuyến thông qua hệ thống thời gian thực. Thời gian gần đây, dưới sự bảo trợ của các hệ thống kế toán thời gian thực, dữ liệu tài chính được xử lý bằng điện tử và bằng chứng kiểm toán cũng có sẵn dưới dạng điện tử. Điều này đòi hỏi từ các công ty thay thế các tài liệu truyền thống và trên giấy của họ bằng các tài liệu điện tử bao gồm cả các đơn đặt hàng để mua, hóa đơn và kiểm tra lại sổ sách (Rezaee et al. 2001).

"Kỹ thuật kiểm toán hỗ trợ bằng máy tính" đã được chấp thuận bởi Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC) trong ấn bản năm 2001 (Ciprian-Costel 2014). Các công ty kiểm toán và chuyên gia kiểm toán đã thực sự giới thiệu nhiều CAATs. Các kỹ thuật này đã được cải thiện để hỗ trợ cho các KTV thực hiện các công việc kiểm toán của họ, tùy thuộc vào thông tin kế toán trên máy vi tính. Khái niệm về hệ thống thông tin kế toán trên máy vi tính đã tìm được đường vào thế giới kế toán. Nó đã được đề cập rằng, một trong những CAATs quan trọng nhất và được sử dụng rộng rãi trong kiểm toán điện tử là phần mềm kiểm toán tổng quát được viết tắt là GAS (Singleton 2006). GAS được các KTV sử dụng để phân tích và kiểm tra dữ liệu trực tiếp hoặc trích xuất từ một loạt các ứng dụng (Debreceny et al. 2005).

Môi trường máy vi tính hiện đại tạo ra cơ hội mới, nhưng cũng có rủi ro mới, các quy tắc được bổ sung độ chính xác bảo mật và tỷ lệ lỗi chấp nhận được, do đó liên tục ảnh hưởng đến công việc của KTV (Ciprian-Costel 2014). Mặt khác, các nghiên cứu trước đây đã cho thấy nhiều lợi ích của kiểm toán điện tử, đặc biệt là với việc gia tăng các hệ thống kế toán trên máy vi tính như ERP - Lập kế hoạch nguồn lực doanh nghiệp và khối lượng giao dịch kế toán lớn. Do đó, nghiên cứu này tập trung vào việc sử dụng kỹ thuật kiểm toán được hỗ trợ bằng máy tính (CAATs) trong kiểm toán của các công ty.

2. Kiểm toán và công nghệ thông tin ở Việt Nam

Theo tác giả Phạm Thị Thu Oanh, tính đến năm 2016, Việt Nam có khoảng 4.000 kế toán viên, KTV có chứng chỉ hành nghề (chiếm 2% trong tổng số 196.000 kế toán viên, KTV toàn khu vực ASEAN); Có 150 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kiểm toán, phục vụ trên 40.000 khách hàng và trên 100 tổ chức cung cấp dịch vụ kế toán với trên 10.000 lao động. Việt Nam không chỉ thâm hụt về số lượng, mà còn thâm hụt về chất lượng đội ngũ người làm kế toán, kiểm toán. Việc đào tạo kế toán, kiểm toán mặc dù đã được quan tâm nhưng kế toán viên, KTV đạt chất lượng quốc tế, có đủ khả năng đáp ứng tiêu chuẩn làm việc trong môi trường cạnh tranh hiện nay vẫn còn là vấn đề đáng lo ngại. Hội KTV hành nghề Việt Nam thống kê, có tới 2/3 sinh viên tốt nghiệp ngành kế toán, kiểm toán chưa đáp ứng nhu cầu của các nhà tuyển dụng xét trên nhiều khía cạnh.

Hiện các công ty kiểm toán Big 4 và một số công ty kiểm toán là thành viên của các hãng kiểm toán quốc tế đã sử dụng phần mềm kiểm toán chuyên nghiệp, trong lập hồ sơ và thực hiện các thủ tục kiểm toán. Các công ty kiểm toán còn lại chủ yếu sử dụng các ứng dụng văn phòng như Microsoft Word và Excel, để lập giấy tờ kiểm toán và sử dụng các công cụ trong Excel thực hiện các thủ tục phân tích. Nhiều công ty kiểm toán chưa sử dụng các phần mềm chuyên dụng, để lập hồ sơ kiểm toán và thực hiện thủ tục kiểm toán. Việc ứng dụng công nghệ thông tin và các kỹ thuật kiểm toán có sự trợ giúp của máy tính chưa được áp dụng một cách rộng rãi, dẫn tới các hạn chế trong việc phân tích, xử lý các thông tin, giao dịch của khách hàng (Lê Thị Thu Hà, 2018).

Theo nghiên cứu của tác giả Binh Ngo Pham và các cộng sựT, nhóm tác giả đã gửi bảng câu hỏi đến 126 KTV và trợ lý kiểm toán tại các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam. Những người được hỏi cho rằng với họ khi sử dụng công nghệ trong kiểm toán, việc đánh giá gian lận là yếu tố được coi là khá quan trọng. Tuy nhiên, nó không được sử dụng một cách thích hợp, bởi vì tỷ lệ sử dụng tương ứng so với tầm quan trọng của công nghệ kiểm toán là 43,7% và 24,6%. Tương tự, đánh giá bằng chứng kiểm toán cũng được hiểu là một yếu tố quan trọng của công nghệ kiểm toán so với giá trị thực của nó (65,1% số người được hỏi tin rằng công nghệ thông tin có tác động, nhưng chỉ có 9,5% số người được hỏi nói rằng nó thực sự được sử dụng nhưng ít). Phần lớn số người được hỏi trong nghiên cứu nói rằng, lý do quan trọng nhất để sử dụng công nghệ kiểm toán trong quá trình kiểm toán là để cải thiện chất lượng kiểm toán, giảm thiểu thời gian, chi phí kiểm toán và để đơn giản hóa quy trình, trong khi một số khác cho rằng lý do quan trọng nhất cho việc sử dụng công nghệ trong kiểm toán là chú ý nhiều hơn đến các lĩnh vực rủi ro.

Bên cạnh đó, nghiên cứu cho thấy khó khăn trong việc định lượng lợi ích và chi phí của công nghệ thông tin và sự thiếu nhiệt tình đối với công nghệ thông tin ở các KTV cấp cao có tác động lớn đến việc sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm toán. Nhìn chung những người được hỏi nhấn mạnh rằng, khi sử dụng công nghệ kiểm toán họ kỳ vọng chất lượng kiểm toán sẽ cao hơn và hiệu quả hơn so với việc làm trên giấy. Tuy nhiên, khó khăn chính là thiếu đào tạo công nghệ thông tin, sự thiếu nhiệt tình với công nghệ thông tin trong kiểm toán và khó áp dụng phần mềm trong các tình huống thực tế. Do đó, các công ty mong muốn áp dụng công nghệ trong kiểm toán và cũng mong muốn có các chương trình đào tạo chuyên sâu và tập trung vào văn hóa doanh nghiệp.

3. Bối cảnh của Kiểm toán điện tử

Ngành kiểm toán luôn được coi là một ngành thực sự phức tạp, là một lĩnh vực đầy thách thức. Lĩnh vực này là một trong nhiều lĩnh vực bị ảnh hưởng bởi những tiến bộ diễn ra trên toàn thế giới do cuộc cách mạng công nghệ và thông tin. Kiểm toán dựa trên giấy đã trở thành quá khứ mặc dù có các công ty kiểm toán vẫn thực hiện nó, hiện nay kiểm toán dựa trên giấy đại đa số đã được thay thế bằng kiểm toán điện tử. Kiểm toán điện tử đã được gọi là "Kiểm toán hỗ trợ bằng máy tính, trong đó hồ sơ điện tử được sử dụng để hoàn thành tất cả hoặc một phần công việc kiểm toán" (Sở Thuế vụ Florida 2002).

Một trong những lợi thế quan trọng nhất đối với kiểm toán điện tử là tìm được các vấn đề khả nghi và tiết kiệm thời gian. Những vấn đề này được coi là khó khăn hơn, đặc biệt khi có sự lạm dụng dẫn đến thực hiện gian lận. Không giống như kiểm toán dựa trên máy tính, chỉnh sửa dựa trên giấy có nhiều nhược điểm khác nhau. Sự can thiệp của con người vào chuỗi các hoạt động, là một trong những nhược điểm nổi bật nhất đã được các nhà nghiên cứu quan tâm trong lĩnh vực này (Solieri và Hodowanitz 2016).

Tài liệu cho thấy, có rất nhiều công cụ và kỹ thuật kiểm toán dựa trên máy tính được giới thiệu đã được phát triển, để hỗ trợ cho các KTV trong khi thực hiện kiểm toán dữ liệu kế toán trên máy vi tính. Một trong những công cụ phần mềm được triển khai rộng rãi nhất được gọi là phần mềm kiểm toán tổng quát (Singleton 2006). Phần mềm này được thực hiện bởi các KTV để phân tích và kiểm toán dữ liệu mà họ có; cho dù chúng được phân loại là dữ liệu trực tiếp hoặc dữ liệu được trích xuất từ một loạt các ứng dụng (Debreceny et al. 2005). GAS được gọi là phần mềm phân tích dữ liệu hoặc phân tích dữ liệu đã được thực hiện, để thực hiện các thủ tục kiểm toán cụ thể và phân tích thống kê.

Các chức năng của phần mềm này bao gồm: duyệt, phân tích, phân loại, tóm tắt, phân tầng, lấy mẫu và thực hiện các phép tính. Mặc dù thực tế là, phần lớn các KTV hiện đang áp dụng các thủ tục kiểm toán điện tử vào công việc kiểm toán của họ, các quy trình kiểm toán cốt lõi thường không được thông qua mà không có tự động hóa từ GAS. Tuy nhiên, các KTV vẫn có xu hướng áp dụng một số thủ tục kiểm toán truyền thống nhất trong khi soạn các quan điểm kiểm toán riêng của họ, tùy thuộc vào mẫu giao dịch kế toán thay vì điều tra tất cả các dữ liệu có sẵn.

Để minh họa sự khác biệt giữa CAATs và GAS, Braun và Davis đã xác định CAATs là “bất kỳ việc sử dụng công nghệ nào để hỗ trợ hoàn thành kiểm toán”. Dựa trên định nghĩa này, có nhiều loại CAATs khác nhau, từ xử lý văn bản hoặc bảng tính điện tử đến hệ thống chuyên gia (Debreceny et al. 2005). Hơn nữa, CAATs được sử dụng bởi KTV bên ngoài và nội bộ có thể được nhóm thành các tham chiếu điện tử, phát hiện gian lận, phần mềm kiểm toán tổng quát (GAS) và giám sát liên tục (Mahzan và Lymer 2014). Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng GAS là một loại CAATs giúp KTV thực hiện trích xuất dữ liệu, truy vấn dữ liệu, tóm tắt dữ liệu, phân tích dữ liệu (Ahmi và Kent 2012). GAS được chia thành hai loại là phần mềm thương mại và phần mềm được phát triển nội bộ (Widuri et al. 2016).

4. Lợi ích của kiểm toán điện tử

Bản chất hồ sơ của các công ty làm nền tảng cho KTV đưa ra quyết định có hay không việc sử dụng kiểm toán điện tử thay thế kiểm toán dựa trên giấy. Có rất nhiều lợi ích các công ty nhận được từ việc thực hiện kiểm toán điện tử. Kiểm toán điện tử có thể giảm thiểu các nỗ lực tổng thể từ khách hàng cũng như bộ phận kiểm toán thực hiện để hoàn thành công việc kiểm toán. Kiểm toán điện tử còn có thể rút ngắn thời gian và chi phí kiểm toán, hoặc các thủ tục kiểm toán cụ thể cho từng khoản mục được thực hiện thông qua dữ liệu điện tử trong cùng thời gian. Do đó, có thể đưa ra lợi ích của việc sử dụng Kỹ thuật kiểm toán hỗ trợ máy tính (CAATs) gồm những nội dung sau:

- Kiểm tra phần mềm kế toán của khách hàng, vì KTV có thể xác minh xem nó có hoạt động chính xác hay không. KTV có thể kiểm tra chương trình kế toán và hồ sơ của mình trực tiếp từ gốc của nó, thay vì kiểm tra các tài liệu giấy được cho là bản sao chính xác.

- Kiểm tra khối lượng lớn dữ liệu trong một thời gian ngắn và có độ chính xác cao. Khi KTV sử dụng CAATs, KTV sẽ tự tin hơn trong quan điểm của mình.

- Hiệu quả, bởi vì khi một phần mềm kiểm toán được thực hiện, nó có thể được sử dụng sau 5 năm để thu thập bằng chứng kiểm toán, vì vậy có thể tiết kiệm được chi phí.

- CAATs giúp minh bạch các báo cáo tài chính trong các tổ chức, bởi vì chúng là những công cụ mà các hành vi lừa đảo dễ dàng được phát hiện.

- Các KTV nên so sánh giữa các kết quả thu được, bằng cách sử dụng các kỹ thuật máy tính và kết quả của kiểm tra truyền thống. Nếu thu được kết quả tương tự, niềm tin chung của KTV sẽ tăng lên.

5. Chất lượng kiểm toán và CAATs

Chất lượng kiểm toán là một khái niệm có định nghĩa khác nhau từ các nghiên cứu khác nhau. DeAngelo (1981) đưa ra giả thuyết một định nghĩa hai chiều về chất lượng kiểm toán: Thứ nhất, phải phát hiện sai lệch về vật chất, và thứ hai, sai số vật chất phải được báo cáo. Do đó, Titman và Trueman (1986) đề xuất rằng, một KTV tốt cung cấp thông tin chính xác về giá trị của doanh nghiệp. Chất lượng kiểm toán được xác định là xác suất mà các báo cáo tài chính không chứa các thông tin sai lệch trọng yếu (Palmrose 1988). Trong khi Davidson và Neu (1993) xác định chất lượng kiểm toán là khả năng của KTV phát hiện, loại bỏ các thông tin sai lệch và thao tác trong báo cáo thu nhập ròng.

Chúng ta có thể nói rằng, chất lượng kiểm toán thể hiện khả năng phát hiện các thông tin sai lệch của kế toán và mức độ độc lập của KTV. Vấn đề tiếp theo phát sinh câu hỏi sau: Liệu người kiểm toán có sử dụng CAATs để cải thiện chất lượng kiểm toán không?

Người sử dụng báo cáo tài chính tin rằng, báo cáo kiểm toán đảm bảo báo cáo tài chính của công ty không có thông tin sai lệch trọng yếu và không gian lận (Epstein và Geiger 1994). Tuy nhiên, các KTV cung cấp các báo cáo kiểm toán để đảm bảo sự hợp lý về việc tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu của tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IAS).

Các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng, KTV nên sử dụng công nghệ cho quá trình kiểm toán (DeAngelo 1981) vì nó có thể làm tăng tính hữu hiệu và hiệu quả trong việc đưa ra quyết định kiểm toán (Janvrin et al. 2008). Hơn nữa, việc sử dụng công nghệ của KTV có thể làm tăng chất lượng của quy trình kiểm toán và chất lượng kết quả kiểm toán (Manson et al. 1998).

Một nghiên cứu được tiến hành bởi Ahmi và Kent (2012) ban đầu được dự định để khám phá mức độ thực hiện của các KTV bên ngoài tại Anh cho GAS như là một phần mềm kiểm toán trên các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Anh. Phân tích thống kê dữ liệu cho thấy, việc thực hiện GAS không phổ biến ở giữa các KTV của Anh khi có 73 KTV báo cáo việc từ chối thực hiện GAS vì họ thấy nó không có lợi cho khách hàng. Những lợi ích của việc thực hiện GAS đã phải đối mặt với chi phí cao.

Một nghiên cứu khác của Vasarhelyi và Romero (2014) cho thấy, việc tích hợp các nhóm hỗ trợ công nghệ với KTV là một quá trình dẫn đến việc cải thiện khả năng sử dụng ngoài việc tối đa hóa việc áp dụng các công nghệ trong kiểm toán. Kết quả chính của Omonuk và Oni (2015) cho thấy, có mối quan hệ tích cực giữa việc sử dụng CAATs và chất lượng kiểm toán ở Nigeria. Ngoài ra, nghiên cứu giải thích rằng các công ty Nigeria địa phương không hiệu quả trong việc áp dụng CAATs, không tạo ra các báo cáo kiểm toán chất lượng. Mục đích nghiên cứu của Eni (2016) là trình bày và thảo luận các khái niệm gần đây nhất trong kiểm toán là “hệ thống kiểm toán hợp tác trực tuyến”. Phân tích dữ liệu đã hướng dẫn các nhà nghiên cứu giới thiệu hệ thống kiểm toán hợp tác trực tuyến được nhà nghiên cứu xác định là “Hệ thống tổ chức liên kết sử dụng kỹ thuật hợp tác thông minh giữa các bên liên quan của quá trình kiểm toán trong một khu vực cụ thể phụ thuộc vào Internet”. Mặc dù thực hiện một đánh giá về thiết kế hệ thống, các nhà nghiên cứu đã có thể dự đoán rằng, một hệ thống cộng tác trực tuyến có khả năng thực hiện.

6. Vai trò của kiểm toán điện tử

Là một trong những phần mềm kiểm toán được triển khai rộng rãi nhất bởi các công ty kiểm toán, GAS đã được xác định cho phép các KTV tìm ra các thông tin sai lệch của báo cáo tài chính cho dù có hay không, những thông tin sai lệch này là có mục đích. Đây là một sự hỗ trợ tuyệt vời cho các KTV để thực hiện các mục tiêu kiểm toán tổng thể bao gồm: xác minh dữ liệu kiểm toán, thực hiện, quyền sở hữu, đánh giá, độ chính xác, phân loại và tiết lộ dữ liệu được tạo ra thông qua phần mềm kế toán (Debreceny et al. 2005). Có rất nhiều gói phần mềm được tích hợp trong GAS. Các gói này là: ngôn ngữ lệnh kiểm toán (ACL), ý kiến,... Các gói phần mềm như vậy, có thể cho phép các KTV thẩm vấn các hệ thống kế toán khác nhau, hướng dẫn các KTV thực hiện một trăm phần trăm dữ liệu chính xác, trung thực và công bằng cho khách hàng của họ (Greenstein-Prosch và cộng sự 2008).

Việc sử dụng kiểm toán điện tử và các gói phần mềm đã được xác định là cực kỳ có lợi và có ý nghĩa. Kiểm toán điện tử đã được quan tâm và hỗ trợ bởi các tiêu chuẩn kiểm toán. Lợi ích của việc kiểm toán điện tử và phần mềm được thực hiện như GAS đã được xem xét trong nhiều nghiên cứu khác nhau. Phần mềm này đã được điều tra và được phát hiện là tuân thủ rất nhiều chức năng của CAATs (Janvrin et al. 2009).

Tại một trong những quốc gia có uy tín nhất trong lĩnh vực kiểm toán, Vương quốc Anh người ta thấy rằng việc thực hiện kiểm toán điện tử và sử dụng phần mềm kiểm toán rất nhiều, đặc biệt GAS đã áp đảo ngành kiểm toán. Điều này là do sự công nhận rộng rãi về nhiều chức năng và lợi ích do GAS cung cấp cho các công ty kiểm toán và KTV. Có những khẳng định rằng, các công ty phần mềm kiểm toán như Sage - nhà cung cấp phần mềm kiểm toán đẳng cấp thế giới, đã cung cấp phần mềm kiểm toán cho 760.000 doanh nghiệp lớn, nhỏ trên khắp nước Anh. Đây là bằng chứng rõ ràng cho khuynh hướng toàn cầu sử dụng các công cụ và phần mềm kiểm toán điện tử. Điều này cũng có thể được coi là bằng chứng hỗ trợ việc kiểm toán điện tử của KTV và áp dụng phần mềm như GAS.

7. Kết luận

Kết quả chính của bài báo này được tóm tắt, bằng cách xác định các lợi ích và thách thức của việc phát triển từ các kỹ thuật kiểm toán truyền thống sang CAATs. Trong môi trường công nghệ thông tin, các KTV sẽ bắt đầu sử dụng các công cụ tình báo kinh doanh, một yếu tố quan trọng góp phần đưa ra các quyết định kinh doanh thành công. CAATs cho phép KTV kiểm tra số lượng lớn dữ liệu một cách nhanh chóng và chính xác, do đó làm tăng sự tự tin khi họ đưa ra quan điểm của mình. Những phát hiện của các nghiên cứu trước đây cho thấy, CAATs đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện gian lận, minh bạch, chất lượng kiểm toán, chi phí và tính hiệu quả.

Nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết hơn về việc sử dụng GAS trong các lĩnh vực khác nhau của các công ty. Nghiên cứu này được tiến hành bằng cách xem xét nhiều nghiên cứu trước đây. Mặc dù GAS là một chương trình nổi tiếng trong việc trích xuất dữ liệu, phân tích, duyệt, phân loại, lấy mẫu và tính toán, nhưng KTV vẫn có xu hướng áp dụng một số thủ tục kiểm toán truyền thống nếu phù hợp với đặc điểm kiểm toán của họ. Một số KTV thấy rằng, GAS không có lợi cho khách hàng kiểm toán của họ. Những lợi ích của việc thực hiện GAS đã phải đối mặt với chi phí cao của nó.

KTV bên ngoài được khuyến nghị sử dụng kỹ thuật kiểm toán được hỗ trợ bởi máy tính, đặc biệt khi phần lớn thông tin tài chính có sẵn sẽ ở dạng điện tử. Các tính năng của nhóm kiểm toán cá nhân và tích hợp các nhóm hỗ trợ công nghệ với KTV đang cải thiện khả năng sử dụng, ngoài việc tối đa hóa việc áp dụng các công nghệ trong kiểm toán. Tôi nghĩ rằng, nghiên cứu này có thể làm sáng tỏ một phần nào về thách thức và cơ hội của ngành kiểm toán trước sự tiến bộ của công nghệ hiện nay ở Việt Nam./.

Tài liệu tham khảo

1. Phạm Thị Thu Oanh, 2018, Kế toán, Kiểm toán Việt Nam trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, tapchitaichinh.vn.

2. Lê Thị Thu Hà, 2018, ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm toán báo cáo tài chính, http://www.hoiketoanhcm.org.vn.

3. Binh Ngo Pham, 2017, Auditor's Perception of Usage and Importance of Audit Technology in Vietnam, Asian Business Research.

4. Rindang Widuri, (2016): Adopting generalized audit software: an Indonesian perspective, Emeraldinsinght.

5. Singleton, T, (2016): IT audit basics: genralized audit software: effective and efficient tool for todays IT audits, Information systems audit.

6. Steven A. Solieri, Joan Hodowanitz* (2016): Electronic Audit Confirmations: Leveraging Technology to Reduce the Risk of Fraud, Journal of Forensic & Investigative Accounting.

7. OMONUK JB, (2015): Computer Assisted Audit Techniques and Audit Quality in Developing Countries: Evidence from Nigeria, Journal of Internet Banking and Commerce.

8. Alvin a. Arens, Auditing and Assurance services, 2014, Pearson.

9. Ciprian-Costel, Munteanu, (2014): Arguments On Using Computer-Assisted Audit Techniques (Caat) And Business Intelligence To Improve The Work Of The Financial Auditor, Posdru.

10. Miklos A. Vasarhelyi, (2014): Technology in audit engagements: a case study, Emeraldinsinght.

11.       Ahmi, A., Kent,S. (2012):the utilisation of generalized audit software (gas) by external auditors, Emeraldinsinght.

12.       Diane Janvrin, James Bierstaker,D. Jordan Lowe, (2009), An Examination of Audit Information Technology Use and Perceived Importance, American accounting association.

13.       She-I Chang, Cheng-Chih Wu, (2008): The Development of a Computer Auditing System Sufficient for Sarbanes-Oxley Section 404— A Study on the Purchasing and Expenditure Cycle of the ERP System, Information Systems Management.

14. Roger Debreceny, (2005): Employing generalized audit software in the financial services sector: Challenges and Opportunities, Information systems audit.

15. Zabihollah Rezaee, Rick Elam, (2001): Continuous auditing: the audit of the future, Managerial Auditing Journal.

16. Ronald A. Davidson, Dean Neu, (1993): A Note on the Association between Audit Firm Size and Audit Quality, Wiley.

17. Zoe-Vonna Palmrose, (1988):Competitive Manuscript Co-Winner: An Analysis of Auditor Litigation and Audit Service Quality, The Accounting Review.

18. Titman, S., Trueman, B (1986): Information quality and the valuation of new issues, Journal of Accounting and Economics.

19. Linda Elizabeth Deangelo, (1981): Auditor size and audit quality, Journal of Accounting and Economics.

Theo Tạp chí Kế toán và Kiểm toán của Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA) Ths. Hoàng Văn Lợi * Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

 

Xem thêm
Giải đáp thắc mắc

Giải đáp thắc mắc

Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng vận dụng kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp kinh doanh thuộc lĩnh vực Du lịch - Nhà hàng - Khách sạn trên địa bàn thành phố Bà Rịa

Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng vận dụng kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp kinh doanh thuộc lĩnh vực Du lịch - Nhà hàng - Khách sạn trên địa bàn thành phố Bà Rịa

Bàn về thị trường tương lai cho nông nghiệp Việt Nam

Bàn về thị trường tương lai cho nông nghiệp Việt Nam

Ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội

Ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội

Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các công ty niêm yết ngành thủy sản tại Việt Nam

Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các công ty niêm yết ngành thủy sản tại Việt Nam

Đối tác
HAA
ACCA
CPA AUSTRALIA
ICAEW
Quảng cáo
Fast Accounting Online
CIMA
RSM DTL Auditing – Member RSM network
Tổng công ty du lịch Sài Gòn | Saigontourist
Smart Train
CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN & TƯ VẤN CHUẨN VIỆT
Đại Học Ngân Hàng - Thành Phố Hồ Chí Minh
Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh