Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập tại Bình Định


Tại Việt Nam hiện nay, vẫn còn thiếu các nghiên cứu chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập theo phương pháp định lượng. Bài nghiên cứu đã đưa ra các nhân tố và đo lường mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chất lượng BCTC của đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập, trên địa bàn tỉnh Bình Định. Từ đó, đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng BCTC, để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người sử dụng BCTC trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập tại Bình Định.

1. Đặt vấn đề

Các đơn vị công hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều cần thiết và đóng vai trò quan trọng, góp phần cung cấp lực lượng lao động có trình độ cho xã hội. Chính vì vậy, việc các đơn vị này hoạt động hiệu quả, có trách nhiệm và minh bạch thông tin, sẽ tác động làm tăng lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế và tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội. BCTC các đơn vị sự nghiệp công lập có vai trò cung cấp thông tin cho nhiều đối tượng sử dụng khác nhau. Để thông tin trên BCTC là hữu ích, đạt các tiêu chuẩn chất lượng thì việc tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC đơn vị sự nghiệp là một mắt xích quan trọng, để nâng cao chất lượng BCTC. Thực tế, BCTC của các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập nói chung, tại Bình Định nói riêng được lập chỉ phục vụ cho công tác quyết toán ngân sách Nhà nước, chưa phản ánh được đầy đủ kết quả hoạt động của đơn vị, chưa đáp ứng được nhu cầu và lợi ích khác nhau của người sử dụng, cũng như dự đoán về tương lai các nguồn lực có thể sử dụng được. Do vậy, việc nghiên cứu nhận diện và lượng hóa mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chất lượng BCTC các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập tại Bình Định, là chủ đề quan trọng và cấp thiết.

2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

2.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Trong nghiên cứu của Hari Setiyawati (2013); Palmer, Kristine N and et al (2013) đã xác định năng lực nhân viên kế toán là nhân tố có liên quan đáng kể đến chất lượng BCTC. Năng lực ngày càng tăng của một kế toán khu vực công tham gia vào quá trình lập BCTC, nó sẽ tạo ra chất lượng báo cáo tốt hơn. Timoshenko, K & Adhikari, P (2009) đã tiến hành nghiên cứu về cải cách kế toán của chính phủ Trung ương Nga thâm nhập vào hệ thống kế toán các trường đại học, tác giả cho rằng những nhà quản lý các trường đại học không biết được kế toán dồn tích, nhân viên kế toán của họ cũng gặp khó khăn trong việc đưa ra ý nghĩa của hệ thống kế toán mới. Về vấn đề này, theo Celviana Winidyaningrum & Rahmawati (2010) thì biến của nguồn nhân lực (HR), sử dụng công nghệ thông tin (PTI) và kiểm soát nội bộ (PI) đều ảnh hưởng đến tính kịp thời và tin cậy của BCTC. Xu & ctg (2003) ngoài việc cung cấp nền tảng cơ sở lý thuyết về khái niệm và thang đo đo lường chất lượng thông tin kế toán, qua phương pháp nghiên cứu định tính, tác giả đã khám phá ra một số nhân tố tác động đến chất lượng thông tin kế toán, bao gồm các nhân tố bên trong như yếu tố con người và hệ thống, các vấn đề liên quan đến các tổ chức và yếu tố bên ngoài như kinh tế toàn cầu, sự phát triển công nghệ, thay đổi các quy định pháp lý,…

Với các đề tài nghiên cứu trong nước, Huỳnh Thị Phương Anh (2015) đưa ra mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC các trường đại học, cao đẳng công lập, trong đó có các nhân tố môi trường bên ngoài như: Văn hóa, giáo dục nghề nghiệp, pháp lý, chính trị, kinh tế, quốc tế. Diệp Tiên (2016) tác giả đã xác định các nhân tố cụ thể ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các đơn vị sự nghiệp công lập, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh bao gồm: Nhân tố môi trường pháp lý; Nhân tố phần mềm kế toán hành chính sự nghiệp; Nhân tố trình độ chuyên môn của kế toán viên; Nhân tố môi trường làm việc; Nhân tố về cơ sở vật chất, trang thiết bị, ứng dụng công nghệ thông tin; Nhân tố về chế độ đào tạo – đãi ngộ; Nhân tố trình độ công nghệ thông tin.

Qua việc tổng hợp lại các công trình nghiên cứu được thực hiện trên thế giới và ở Việt Nam có liên quan đến nghiên cứu có thể thấy rằng, chất lượng BCTC và các nhân tố ảnh hưởng là một trong những vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu của nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, đối với các công trình nghiên cứu nước ngoài, nội dung các công trình nghiên cứu trước đây được tác giả tìm hiểu trong phạm vi dữ liệu hiện có liên quan đến vấn đề áp dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế vào các quốc gia, hoặc đi vào phân tích một số nhân tố tác động đến quá trình ban hành chuẩn mực,… Các nghiên cứu này, thường gắn liền với các nước thị trường phát triển, hoặc gắn với đặc thù kinh tế xã hội, với nền chính trị và văn hóa đặc trưng của quốc gia được nghiên cứu. Nên kết quả của những nghiên cứu này, chỉ phù hợp với một số quốc gia nhất định, điều kiện nghiên cứu và kết quả của một số nghiên cứu còn khá xa rời với Việt Nam. Đối với các công trình nghiên cứu trong nước, các nhân tố được nêu trong các nghiên cứu này đa phần mang tính vĩ mô như: Môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa,… còn chung chung, chưa sâu sát thực tế tại các đơn vị. Các nhân tố này cũng rất quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng BCTC, nhưng nó chỉ dừng lại ở các nhân tố môi trường bên ngoài, không phản ánh được nguyên nhân sâu xa bên trong. Do vậy, nhóm tác giả đã hướng tới nghiên cứu các nhân tố mang tính thực tế và cụ thể hơn, tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập tỉnh Bình Định.

2.2. Cơ sở lí thuyết

Nghiên cứu của nhóm tác giả phần lớn dựa trên lý thuyết thông tin bất cân xứng, lý thuyết thông tin hữu ích và lý thuyết nắm giữ. Lý thuyết thông tin bất cân xứng chỉ ra rằng, đơn vị sự nghiệp công lập bên cung cấp thông tin trên BCTC là trung thực. Có thể so sánh, dễ hiểu, đúng hạn là các tiêu chí cần có để đảm bảo chất lượng thông tin trên BCTC để các đối tượng sử dụng thông tin đánh giá đúng về tình hình của đơn vị sự nghiệp công lập. Lý thuyết thông tin hữu ích được xem là lý thuyết nền tảng để xây dựng các chuẩn mực của BCTC, nhiệm vụ cơ bản của BCTC là cung cấp thông tin hữu ích và thích hợp cho các đối tượng sử dụng khác nhau. áp dụng lý thuyết này giải thích mục tiêu của việc cung cấp thông tin trên BCTC, là làm sao cho người sử dụng thông tin đó đưa ra các quyết định chính xác và thích hợp. Lý thuyết nắm giữ (lý thuyết nhóm lợi ích), theo lý thuyết này, các quy định được thiết lập theo yêu cầu của các nhóm lợi ích trong xã hội nhằm tối đa hóa lợi ích của các thành viên trong nhóm và bản thân các tổ chức lập quy có thể không độc lập trong quá trình lập quy và các nhóm lợi ích khác nhau, sẽ tranh giành để kiểm soát quyền lực của tổ chức lập quy. Tại Việt Nam, sự kiểm soát và nắm giữ này thuộc về cơ quan Nhà nước.

Dựa vào các lý thuyết nền tảng, các đề tài nghiên cứu về chất lượng và các nhân tố tác động đến chất lượng BCTC của các tác giả nước ngoài và Việt Nam, nhóm tác giả đưa ra mô hình 5 nhân tố tác động đến chất lượng BCTC các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập tại Bình Định ban đầu, gồm nhân tố: Môi trường pháp lý; Nhân tố phần mềm kế toán; Nhân tố năng lực nhân viên kế toán; Nhân tố môi trường làm việc và Nhân tố hoạt động giám sát.

Nhân tố môi trường pháp lý: Đây là nhân tố được xem là cơ sở pháp lý mà kế toán phải căn cứ vào đó để thực hiện công việc kế toán, đảm bảo cho hoạt động của kế toán phù hợp với những quy định của pháp luật. Theo nghiên cứu của Xu & ctg (2003), đặc điểm môi trường chính trị của mỗi quốc gia là khác nhau. Vì vậy, mọi hoạt động trong mọi lĩnh vực của xã hội một nước phải phù hợp với môi trường pháp lý đó và kế toán công cũng không ngoại lệ, cụ thể là các đặc trưng về văn bản pháp lý. Nhà nước Việt Nam quản lý ngân sách theo niên khóa và theo phương pháp truyền thống nên cơ sở kế toán để ghi nhận các nghiệp vụ liên quan đến hoạt động hành chính sự nghiệp là trên cơ sở tiền mặt, yêu cầu các nghiệp vụ liên quan đến thu chi ngân sách Nhà nước chỉ được ghi nhận khi thực thu, thực chi bằng tiền và phải thực hiện quyết toán trong năm tài chính.

Nhân tố phần mềm kế toán: Là nhân tố quan trọng trong công việc kế toán. Vì thế, phần mềm phải đảm bảo chất lượng về mặt kỹ thuật cũng như nội dung nhờ phần mềm ít bị lỗi, giao diện thân thiện với người sử dụng hay có tính tương thích với hệ điều hành máy tính hiện nay. Nhân tố này, sẽ ảnh hưởng lớn đến chất lượng BCTC đơn vị sự nghiệp công lập nói riêng và khu vực công nói chung.

Nhân tố năng lực nhân viên kế toán: Là một nhân tố quan trọng tác động đến chất lượng BCTC vì họ là những người trực tiếp vận hành kế toán tại đơn vị, nên nếu năng lực nhân viên kế toán không đáp ứng yêu cầu sẽ làm chất lượng BCTC của đơn vị xấu đi. Bên cạnh kiến thức chuyên môn, số năm kinh nghiệm làm việc tại đơn vị, tinh thần ham học hỏi và cầu tiến, nhân viên kế toán cần có trình độ sử dụng công nghệ thông tin để đáp ứng yêu cầu về năng lực, góp phần thúc đẩy quá trình hoàn thiện và phát triển hệ thống BCTC, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người sử dụng thông tin hay việc giám sát, điều hành của cơ quan chủ quản. Như vậy, các nhân viên kế toán chuyên nghiệp, có năng lực sẽ giúp nâng cao chất lượng BCTC tại đơn vị.

Nhân tố môi trường làm việc: Môi trường làm việc tốt là yếu tố thu hút nguồn nhân lực. Môi trường làm việc đảm bảo về cơ sở vật chất, trang thiết bị, ứng dụng công nghệ thông tin và có chế độ đào tạo, đãi ngộ tốt với nhân viên được xem là môi trường làm việc tốt và ngược lại. Kế toán viên cần có một môi trường làm việc tốt, một chế độ đãi ngộ xứng đáng với kết quả công việc mà họ bỏ ra như các chính sách thi đua khen thưởng và thăng tiến trong công việc nhằm động viên tinh thần, nâng cao trách nhiệm trong công việc, ảnh hưởng tích cực đến chất lượng BCTC.

Nhân tố hoạt động giám sát: Là một nhân tố quan trọng tác động đến chất lượng BCTC. Bất kỳ hoạt động của một khu vực công nào có sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước cũng đều chịu sự thanh tra, giám sát và kiểm toán từ kiểm toán nhà nước hay các cơ quan có thẩm quyền (Trát Minh Toàn, 2016). Do đó, chất lượng hoạt động thanh tra, giám sát và kiểm toán các năm trước có ảnh hưởng đến việc sử dụng kinh phí và báo cáo về tình hình sử dụng kinh phí, tình hình hoạt động từ các đơn vị này và ảnh hưởng đến thái độ, phong cách, hiệu quả làm việc của nhân viên kế toán năm sau. Từ đó, ảnh hưởng đến chất lượng BCTC. Chất lượng hoạt động giám sát có ảnh hưởng tích cực đến mức độ công bố thông tin và chất lượng thông tin công bố trên BCTC.

2.3. Phương pháp nghiên cứu

Đối với phương pháp định tính: Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết kết hợp với kết quả của các nghiên cứu trước, nhóm tác giả tiến hành thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn các chuyên gia để đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC phù hợp với các đơn vị sự nghiệp công lập tại Bình Định.

Đối với phương pháp định lượng: Chọn mẫu sẽ được tiến hành theo phương pháp phi xác suất thuận tiện. Đối tượng khảo sát là kế toán trưởng và kế toán viên các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập tại Bình Định. Phạm vi khảo sát là các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập tại Bình Định. Trong nghiên cứu, tác giả chọn cỡ mẫu từ 105 đơn vị với mỗi phiếu khảo sát cho một đơn vị.

Sau khi dữ liệu được thu thập, nhóm tác giả tiến hành làm sạch dữ liệu và sau đó phân tích dữ liệu theo các mục tiêu và các giả thuyết nghiên cứu đưa ra. Nhóm tác giả sử dụng phần mềm SPSS 22.0 phục vụ cho việc phân tích, thống kê, xử lý dữ liệu và chạy hồi quy tuyến tính bội.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Kết quả nghiên cứu

Kết quả khảo sát của chuyên gia thu thập được, có 100% ý kiến các chuyên gia đều đồng ý với 5 nhân tố mà nhóm tác giả đã đưa ra là: Môi trường pháp lý; Phần mềm kế toán; Năng lực nhân viên kế toán; Môi trường làm việc; Hoạt động giám sát. Ngoài ra, có 53,30% các chuyên gia đề xuất 1 nhân tố mới là nhân tố nhận thức của nhà quản lý đơn vị (thủ trưởng đơn vị).

Dựa vào kết quả nghiên cứu định tính, nhóm tác giả xây dựng được mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập tại Bình Định, bao gồm 6 nhân tố và tiến hành thiết kế, khảo sát thông qua phiếu khảo sát. Tổng số phiếu phát ra là 110 phiếu, kết quả thu được là 105 phiếu hợp lệ, khảo sát diễn ra trong vòng 3 tháng, bắt đầu từ tháng 08 năm 2017. Sau khi sàng lọc và loại bỏ các phiếu không đạt yêu cầu, số phiếu đưa vào phân tích là 105 phiếu.

3.1.1. Kiểm định chất lượng thang đo

Sử dụng kiểm định Cronbach Alpha để đánh giá chất lượng của thang đo xây dựng. Theo kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả, thì các thang đo đều có hệ số Cronbach Alpha lớn hơn 0.6 và hệ số tương quan biến tổng của thang đo đều lớn hơn 0.3. Do đó, các thang đo đều đạt yêu cầu và các biến quan sát được tiếp tục sử dụng phân tích nhân tố khám phá (EFA).

3.1.2.  Phân tích nhân tố khám phá

Kết quả nghiên cứu cho thấy, KMO thu được bằng 0.779 (thỏa mãn tiêu chí 0.5< KMO < 1), nên kết luận là phân tích yếu tố là thích hợp với dữ liệu thực tế. Ngoài ra, kết quả kiểm định Barlett cho thấy giữa các biến quan sát có tương quan tuyến tính với nhân tố đại diện do Sig.=0.000 <= 0.05.

Theo kết quả nghiên cứu thì, phương sai cộng dồn các yếu tố là 71.121% thỏa mãn tiêu chuẩn phương sai trích phải >50%. Điều này có nghĩa là, 71,121% thay đổi của các nhân tố được giải thích bởi các biến quan sát. Tiếp tục với kết quả của phân tích nhân tố khám phá, cho thấy 6 nhân tố có giá trị Eigen lớn hơn 1. Kết quả nghiên cứu cho biết các biến đặc trưng có 1 biến NLKT1 (Bằng cấp đúng chuyên ngành kế toán công giúp nâng cao chất lượng BCTC) có hệ số tải nhân tố (Factor loading) < 0.55. Để trích lọc được những nhân tố thích hợp và các thang đo đạt được giá trị hội tụ và giá trị phân biệt cao, phải loại bỏ lần lượt các biến đo lường hệ số tải nhân tố <0.55 và chạy lại EFA. Tiếp đến xem xét lần lượt các biến đo lường có hệ số tải nhân tố, biểu hiện trên nhiều nhân tố cùng một lúc và chạy lại EFA thu được kết quả mới.

Lúc này, giá trị kiểm định KMO và Bartletts của thang mới cho kết quả hệ số KMO=0.775 > 0.5 và Sig <0.05 cho thấy, thang đo mới đủ điều phân tích EFA với mức ý nghĩa cao.

Theo kết quả nghiên cứu thì phương sai trích đạt giá trị 1.063 >1 và chiếm tỷ lệ 72.521% > 50% cho thấy, việc lựa chọn 6 nhân tố này hoàn toàn phù hợp.

Như vậy, qua kiểm định chất lượng thang đo và các kiểm định của mô hình EFA, nhận diện có 6 thang đo đại diện cho sự ảnh hưởng đến chất lượng BCTC các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập và 1 thang đo đại diện cho chất lượng BCTC các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập tại Bình Định với 23 biến đặc trưng.

3.1.3.  Xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết

Với mô hình nghiên cứu mới, 6 giả thuyết được kiểm định gồm:

Giả thuyết H1: Môi trường pháp lý có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng BCTC các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập tại Bình Định.

Giả thuyết H2: Môi trường làm việc có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng BCTC các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập tại Bình Định.

Giả thuyết H3: Nhận thức quản lý có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng BCTC các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập tại Bình Định.

Giả thuyết H4: Phần mềm kế toán có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng BCTC các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập tại Bình Định.

Giả thuyết H5: Hoạt động giám sát có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng BCTC các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập tại Bình Định.

Giả thuyết H6: Năng lực kế toán có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng BCTC các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập tại Bình Định.

3.1.4.  Phân tích hồi quy đa biến

Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình. Theo kết quả nghiên cứu thì giá trị hệ số xác định R2 hiệu chỉnh là 0.367, nghĩa là mô hình hồi quy tuyến tính đã xây dựng phù hợp với dữ liệu 36,70%. Hay 36,70% chất lượng BCTC thay đổi, là do sự thay đổi của các biến độc lập. Kết quả nghiên cứu cho thấy,  giá trị Sig < 0.05 và F = 10.933 chứng tỏ rằng mô hình hồi quy xây dựng là phù hợp với bộ dữ liệu thu thập được và các biến đưa vào đều có ý nghĩa về mặt thống kê với mức ý nghĩa 5%. Điều này có ý nghĩa là, các biến độc lập trong mô hình có tương quan tuyến tính với biến phụ thuộc, tức là sự kết hợp của các biến độc lập có thể giải thích được sự thay đổi của biến phụ thuộc. Mô hình hồi quy tuyến tính bội được xây dựng phù hợp và có thể sử dụng được.

Kiểm định về ý nghĩa của các hệ số hồi quy. Kết quả nghiên cứu ta thấy, có 3 nhân tố có Sig. <= 0.05 là các nhân tố: Nhận thức quản lý (NTQL), Hoạt động giám sát (HĐGS), Năng lực kế toán (NLKT); những nhân tố này có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC (CLBCTC). Cả 3 nhân tố này đều tác động cùng chiều và nhân tố Năng lực kế toán ảnh hưởng mạnh nhất (B=0.434), nhân tố Nhận thức quản lý ảnh hưởng mạnh hơn (B=0.343) nhân tố Hoạt động giám sát (B=0.266). Còn 3 nhân tố có sig > 0.05 là: Môi trường pháp lý (MTPL); Môi trường làm việc (MTLV); Phần mềm kế toán (PMKT) không có ý nghĩa tương quan với CLBCTC nên ta loại biến này. Về hiện tượng đa cộng tuyến, độ chấp nhận của biến (Tolerances) và hệ số phóng đại phương sai (Variance inflation factor – VIF) được dùng để phát hiện đa cộng tuyến. Kết quả cho thấy, giá trị VIF (1.003-1.020) của 3 nhân tố có ý nghĩa tương quan đến chất lượng BCTC đều thỏa mãn điều kiện không tự tương quan (1 <= VIF <= 5), nên không có hiện tượng đa cộng tuyến. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình hồi quy có dạng:

CLBCTC = 0,433 NLKT + 0,345 NTQL + 0,246 HĐGS

Kiểm định phân phối chuẩn phần dư. Kết quả từ biểu đồ tần số P-P plotcho thấy, các điểm phân tán xung quanh được kỳ vọng. Cũng cho thấy, giả định phân phối chuẩn của phần dư không bị vi phạm. Kết quả từ biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa có hình dáng là đường cong chuông, tức phân phối chuẩn. Mặt khác, giá trị trung bình Mean = 1.95E -17 tức là xấp xỉ gần bằng 0 và độ lệch chuẩn Std.Dev. = 0.970 gần bằng 1. Kết quả cho thấy rằng, phần dư chính là phần dư không bị nhầm lẫn và mô hình hồi quy tối ưu.

Kiểm định giả định phương sai của sai số (phần dư) không đổi. Theo kết quả nghiên cứu, quan sát đồ thị phân tán giữa phần dư chuẩn hóa và có giá trị dự đoán chuẩn hóa từ mô hình hồi quy tuyến tính, cho thấy phần dư đã chuẩn hóa và giá trị dự đoán chuẩn hóa phân tán ngẫu nhiên. Điều này có nghĩa là, phương sai của phần dư không đổi và chấp nhận mô hình hồi quy bội.

3.2. Thảo luận

Biến NLKT(B=0.433 > 0), tác động cùng chiều với biến CLBCTC. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, nhân tố năng lực nhân viên kế toán tương thích với chất lượng BCTC theo hướng nhân viên kế toán có tinh thần ham học hỏi và cầu tiến; trình độ sử dụng công nghệ thông tin; số năm kinh nghiệm làm kế toán tại đơn vị càng cao sẽ làm tăng chất lượng BCTC các đơn vị sự nghiệp công lập tại Bình Định.

Biến NTQL (B=0.343 > 0), tác động cùng chiều với biến CLBCTC. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, khi nhà quản lí sử dụng thông tin kế toán khi đưa ra các quyết định cho các hoạt động của đơn vị; quan tâm đến hoạt động kế toán của đơn vị và có hiểu biết về kế toán sẽ giúp nâng cao chất lượng BCTC.

Biến HĐGS (B=0.266 > 0), tác động cùng chiều với biến CLBCTC. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, định kỳ, đơn vị vẫn lập báo cáo dù không có kiểm tra; hoạt động thanh tra, giám sát của cơ quan nhà nước hay hoạt động kiểm toán của cơ quan nhà nước cũng giúp nâng cao chất lượng BCTC.

So với nghiên cứu trong nước, cụ thể nghiên cứu của tác giả Diệp Tiên (2016). Kết quả nghiên cứu phù hợp với nghiên cứu trước đây ở kết quả về nhân tố trình độ công nghệ thông tin. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu hiện tại thì trình độ công nghệ thông tin là một yếu tố cùng với tinh thần ham học hỏi và cầu tiến; số năm kinh nghiệm làm kế toán tại đơn vị trong nhân tố trình độ nhân viên kế toán có tác động đến chất lượng BCTC.

So sánh với nghiên cứu nước ngoài, cụ thể là nghiên cứu của Celviana Winidyaningrum & Rahmawati (2010). Trong nghiên cứu này, kết quả cho thấy rằng, biến của nguồn nhân lực (HR), sử dụng công nghệ thông tin (PTI) và kiểm soát nội bộ (PI) đều ảnh hưởng đến tính kịp thời và tin cậy của BCTC. Kết quả của hai mô hình nghiên cứu là khá giống nhau, tuy nhiên thì bài nghiên cứu hiện tại mang kết quả cụ thể hơn, điển hình về nhân tố nhận thức của nhà quản lí hay nhân tố về hoạt động giám sát.

4. Kết luận và kiến nghị

Qua việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập tại Bình Định, nhóm tác giả đã đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng BCTC, để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người sử dụng BCTC trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập, trên địa bàn tỉnh Bình Định.

Đối với các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập tại Bình Định, ngoài việc tuyển dụng nhân viên kế toán có trình độ, cần chú trọng việc đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân viên kế toán hiện có tại đơn vị thông qua các lớp bồi dưỡng, tập huấn nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng, cập nhật thường xuyên những kiến thức mới về kế toán – tài chính; nâng cao trình độ sử dụng công nghệ thông tin cho nhân viên kế toán thông qua các lớp đào tạo tin học văn phòng, ứng dụng phần mềm hay lớp anh văn cơ bản; thực hiện chính sách luân chuyển vị trí công tác của nhân viên kế toán để mỗi nhân viên kế toán có thể nắm vững nhiều công việc, từ đó có thể hỗ trợ, thay thế cho nhau khi cần thiết. Động viên tinh thần, khuyến khích kế toán viên nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần ham học hỏi và cầu tiến trong công việc thông qua các buổi tọa đàm, các chính sách thi đua khen thưởng và thăng tiến trong công việc.

Về phía các cơ sở đào tạo nghề nghiệp kế toán, tiếp tục đẩy mạnh công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cần phải chú trọng hơn nữa trong việc giảng dạy cho người học chuyên sâu về chuyên ngành kế toán công, nhất là phải cho người học tiếp cận với môi trường thực tế. Trong đó, chương trình đào tạo kế toán - kiểm toán tại các trường đại học, cao đẳng cần chủ động cập nhật theo những thay đổi của chuẩn mực kế toán quốc tế đã được thừa nhận. Hơn nữa, các trường đại học cũng cần có cách thức để rèn luyện cho sinh viên kỹ năng phân tích, phán đoán giao dịch, vận dụng nguyên tắc kế toán, ứng dụng công nghệ thông tin để xử lý và trình bày thông tin một cách linh hoạt, đảm bảo tính thích hợp, tin cậy và tính có thể so sánh được.

Các trường Đại học cũng cần có những định hướng, để có thể chủ động cho xu hướng tự chủ đại học trong thời kì mới như hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ, quy định quản lí nguồn thu, đào tạo nâng cao năng lực quản lý tài chính và phân cấp quản lý tài chính cho các đơn vị trực thuộc trong trường.

Đối với nhà quản lí, cần phải dành thời gian tìm hiểu để có thể nhận thức đầy đủ hơn về tầm quan trọng của chất lượng BCTC. Từ đó, quan tâm đến hoạt động kế toán của đơn vị và dễ dàng đưa ra những chính sách hỗ trợ như: Đầu tư chi phí: phê duyệt các khoản chi phí có liên quan đến đào tạo nâng cao năng lực nhân viên kế toán cho nhân sự trong phòng kế toán; Mời các chuyên gia tư vấn hỗ trợ nếu cần thiết; Trang thiết bị: trang bị cho bộ phận kế toán những phương tiện cần thiết như: Điều kiện làm việc, công cụ, dụng cụ lưu trữ dữ liệu, phần mềm kế toán, hệ thống mạng, hệ thống máy tính,…; Nhân sự kế toán: Bổ nhiệm người đứng đầu bộ phận kế toán phải là người có kinh nghiệm, chuyên môn sâu về kế toán và tuyển dụng nhân sự kế toán có đủ năng lực theo yêu cầu của kế toán trưởng.

Nâng cao chất lượng hoạt động giám sát, đơn vị cần triển khai xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ, nhằm kiểm soát từ khâu thu thập dữ liệu đến khâu cung cấp thông tin và công khai tài chính. Mọi hoạt động của từng phần hành kế toán cần có quy trình rõ ràng, quy định cụ thể trách nhiệm quyền hạn của từng bộ phận, từng đối tượng có liên quan. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thu - chi tài chính và đảm bảo đơn vị vẫn lập báo cáo dù không có kiểm tra. Việc thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ tốt, sẽ hỗ trợ các đơn vị kiểm soát được việc chấp hành các quy định pháp luật về kế toán, giảm thiểu các sai sót và rủi ro có ảnh hưởng công tác kế toán tại đơn vị.

Bên cạnh đó, Quốc Hội cần tăng cường hơn nữa vai trò kiểm soát của mình, từ khâu kiểm soát việc ban hành các văn bản chính sách đến kiểm soát việc tuân thủ chính sách, pháp luật của các đơn vị công nói chung, các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập nói riêng. Cần nâng cao vai trò của đội ngũ kiểm toán viên Nhà nước, các chuyên viên thẩm kế, chú trọng đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn cũng như đạo đức nghề nghiệp. Hệ thống chuẩn mực kế toán và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán phải tiếp tục hoàn thiện, để phù hợp với thông lệ quốc tế. Quốc hội cần sớm tiến hành nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung các quy định pháp lý liên quan đến quá trình hoàn thiện BCTC áp dụng cho khu vực công nói chung và cho các đơn vị sự nghiệp công lập nói riêng phù hợp với người sử dụng, tăng cường kiểm soát và đánh giá thông tin. Ngoài ra, cơ quan quản lý phải có hướng dẫn chi tiết về những quy định trong chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán, đồng thời phải đảm bảo tính thống nhất giữa Nghị định của Chính phủ và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp./.

 

Tài liệu tham khảo

 

1. Huỳnh Thị Phương Anh (2015), “Hoàn thiện BCTC khối trường đại học – cao đẳng công lập khu vực Nam Trung Bộ & Nam Bộ”, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Kinh tế Tp.Hồ Chí Minh.

2. Diệp Tiên (2016), “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của đơn vị sự nghiệp công lập – nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sỹ, Đại học Kinh tế Tp.Hồ Chí Minh.

3. Trát Minh Toàn (2016), “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán tại các Trường học công lập trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long”, Luận văn thạc sỹ, Đại học Kinh tế Tp.Hồ Chí Minh.

4. Celviana Winidyaningrum & Rahmawati (2010), “Pengaruh Sumberdaya manusia dan pemanfaatan teknologi informasi terhadap keterandalan dan ketepatwaktuan pelaporan keuangan dengan variable intervening pengendalian internal akuntansi”, SNA XIII Purwokerko.

5. Clark, C., (2010),“Understanding the Needs of Users of Public Sector Financial Reports: How far Have We come?”,International Review of Business Research Papers,6(5), 70-81.

6. Hari Setiyawati, (2013), “The effect of Internal Accountants Competence, Managers Commitment to Organizations and the Implementation of the Internal Control System on the Quality of Financial Reporting”, International Journal of Business and Management Invention. ISSN (Online): 2319 – 8028.

7. Timoshenko, K & Adhikari, P (2009),“Implementing public sector accounting reform in Russia: evidence from one university”, Accounting in Emerging Economies, 9, 169.

8. Xu & ctg (2003), “Key Issues Accounting Information Quality Management: Australian Case Studies”, Industrial Management & Data Systems, 103 (7), 461-470, retrieved on September 20th 2017, from https://doi.org/10.1108/02635570310489160.

Theo Tạp chí Kế toán và Kiểm toán của Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA) Ths. Trần Thị Yến - Hoàng Thị Thúy *Trường Đại học Quy Nhơn

 

Xem thêm
10 thay đổi Dân kế toán buộc phải biết có hiệu lực từ 01/5/2018

10 thay đổi Dân kế toán buộc phải biết có hiệu lực từ 01/5/2018

Nghiên cứu về Kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp

Nghiên cứu về Kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp

Doanh thu và ghi nhận doanh thu

Doanh thu và ghi nhận doanh thu

Chuẩn mực kiểm toán cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Một số gợi ý đối với hoạt động kiểm toán tại Việt Nam

Chuẩn mực kiểm toán cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Một số gợi ý đối với hoạt động kiểm toán tại Việt Nam

Ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm toán báo cáo tài chính

Ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm toán báo cáo tài chính

Đối tác
ACCA
CPA AUSTRALIA
ICAEW
Quảng cáo
Fast Accounting Online
CIMA
RSM DTL Auditing – Member RSM network
Tổng công ty du lịch Sài Gòn | Saigontourist
Smart Train
CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN & TƯ VẤN CHUẨN VIỆT
Đại Học Ngân Hàng - Thành Phố Hồ Chí Minh
Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh