Kinh nghiệm quốc tế về đổi mới cơ chế quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam


Quá trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước đối với giáo dục đại học (GDĐH) công lập ở Việt Nam có nhiều nội dung và cần có lộ trình để thực hiện, trong đó có 2 vấn đề cần tập trung đổi mới mang tính đột phá đó là chính sách chi và phương thức phân bổ ngân sách nhà nước (NSNN) cho các trường đại học công lập (ĐHCL). Trên cơ sở lý luận cơ bản, cần tìm hiểu cơ sở thực tiễn của những nước có nền GHĐH tiên tiến cũng như những nước có những đặc điểm, điều kiện tương đồng với Việt Nam để tham khảo lộ trình cũng như nội dung để góp phần đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các trường ĐHCL ở Việt Nam để hội nhập và phát triển.

1. Kinh nghiệm một số nước về phương thức phân bổ ngân sách nhà nước cho GDĐH và chính sách học phí

1.1. Kinh nghiệm của Mỹ

1.1.1. Khái quát hệ thống GDĐH ở Mỹ

Theo trích yếu thống kê năm 2012 của Cục Thống kê Mỹ, có 4.495 cơ sở GDĐH. Trong đó, có 2.774 cơ sở cung cấp chương trình đào tạo bốn năm và 1.721 cơ sở cung cấp chương trình đào tạo hai năm (Eckel và King, 2004) phân loại các cơ sở GDĐH cấp bằng ở Mỹ thành các nhóm lớn: Cơ sở đào tạo công lập trong hai năm, hay các trường cao đẳng cộng đồng; cơ sở đào tạo tư nhân không vì lợi nhuận (trường đại học nghiên cứu, các trường cao đẳng, một số cơ sở đào tạo hai năm có liên hệ với các tổ chức tôn giáo; các trường cao đẳng nữ sinh; các trường đại học và cao đẳng cho người da đen…); Các cơ sở đào tạo tư nhân vì lợi nhuận. Tuy các trường công lập chỉ chiếm 37,2% trên tổng số lượng các trường, nhưng chiếm đến 73% số sinh viên.

Trách nhiệm quản lý các cơ sở GDĐH công thuộc về chính quyền các Bang. Mức độ và phương thức quản lý tại các Bang không giống nhau; có thể thông qua hình thức quản lý tại các Bang không giống nhau; có thể thông qua hình thức địa phương bầu ra ban quản trị để điều hành các trường cao đẳng cộng đồng, hoặc Thống đốc bang chỉ định một ban quản trị để điều hành, hoặc các cơ quan chức năng của Bang sẽ trực tiếp quản lý các trường theo chức năng mà không thành lập ra ban quản trị.

1.1.2. Phân bổ ngân sách cho GDĐH ở Mỹ

Theo Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) 2013, tỷ lệ chi tiêu công cho GDĐH ở Mỹ là 1%, thấp hơn mức bình quân của các nước OECD. Do Mỹ là nhà nước liên bang nên tài chính cho GDĐH được phân bổ theo ba cấp; chính quyền liên bang, chính quyền bang và chính quyền địa phương.

Phân bổ ngân sách của chính quyền liên bang cho GDĐH

Việc phân bổ ngân sách cho GDĐH tại Mỹ được thực hiện với quan điểm hạn chế can thiệp từ chính phủ và tuân theo cạnh tranh thị trường, để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. Nguồn ngân sách của chính phủ liên bang được dành cho hỗ trợ sinh viên và cho nghiên cứu khoa học. Các trường đại học muốn tham gia vào các chương trình hỗ trợ tài chính của chính phủ liên bang sẽ phải tuân thủ nhiều yêu cầu mà chính phủ liên bang đề ra, từ việc đào tạo giáo viên cho tới bình đẳng giới trong các hoạt động của nhà trường.

Phân bổ ngân sách của chính quyền bang và chính quyền địa phương cho GDĐH

Ngân sách của bang đóng vai trò quan trọng đối với các trường đại học. Trong năm 2013, trong tổng số 143, 4 tỉ USD hỗ trợ cho hoạt động thường xuyên của GDĐH, 81, 2 tỉ USD (57%) tới từ ngân sách bang và các địa phương (SHEEO, 2014). Có hai cách phân bổ ngân sách của bang cho các trường, đó là dựa vào đầu vào (input-based funding) và dựa vào tình hình hoạt động (performance-based funding). Cách phân bổ dựa vào đầu vào thường dựa trên số sinh viên nhập học, số giảng viên, nhân viên và những ngồn lực khác cần có để cung cấp dịch vụ giáo dục. Tuy nhiên cách phân bổ này được cho là không còn hợp lý trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ đang cần ngày càng nhiều hơn những lao động có trình độ đại học (Tandbergj và Hillman, 2013). Cách phân bổ dựa vào tình hình hoạt động một hệ thống phân bổ ngân sách giáo dục của bang dựa vào các tiêu chí đo lường tình hình hoạt động cụ thể như tỷ lệ hoàn thành khóa học, hoàn thành tín chỉ và hoàn thành bằng cấp. Cách phân bổ dựa vào tình hình hoạt động áp dụng ở 26 bang tại Mỹ, trong khoảng thời gian giữa các năm 1979 và 2007 (Miao, 2012). Hiện nay, có 25 bang tại Mỹ thực hiện và 5 bang đang chuyển sang cách phân bổ này.

1.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc

1.2.1. Khái quát hệ thống GDĐH ở Hàn Quốc

Hàn Quốc là một trong những nước có nền GDĐH phát triển. Hơn một nửa dân số từ 25 – 34 tuổi đã hoàn thành GDĐH. Vào năm 2008, có 3.562.844 sinh viên theo học tại hệ thống GDĐH ở Hàn Quốc với 70% theo học tại các trường đại học, 22% tại các trường cao đẳng sơ cấp và 8% tại các trường sau đại học.

Hàn Quốc có khoảng 372 cơ sở GDĐH bao gồm 54 cơ sở công lập và 318 cơ sở tư thục. Các cơ sở GDĐH quốc gia được thành lập, quản lý và hỗ trợ tài chính bởi chính phủ. Các trường đại học và cao đẳng tư thục được thành lập và quản lý bởi các tổ chức hoặc cá nhân, chính phủ có một phần trợ cấp tài chính.

Có thể nói rằng, hệ thống GDĐH tại Hàn Quốc tương đối tập quyền. Các vấn đề quan trọng đối với việc quản lý các cơ sở GDĐH bao gồm các tiêu chí thành lập các trường đại học và cao đẳng, việc thành lập các khoa, hạn ngạch sinh viên đầu vào, tuyển dụng, giờ tín chỉ, … đều tuân theo các quy định và Luật Giáo dục. Bộ Giáo dục là cơ quan chính phủ quan trọng trong việc theo dõi và điều phối các chính sách đại học. Hội đồng GDĐH Hàn Quốc (The Korean Council for University Education – KCUE) là một cơ quan khác giữ vai trò điều phối GDĐH.

1.2.2. Phân bổ ngân sách cho GDĐH ở Hàn Quốc

Theo OECD (2013), tỉ lệ chi tiêu công GDĐH của Hàn Quốc là 0.7% GDP trong khi mức chi trung bình của OECD là 1.1%. Trợ cấp từ Bộ Giáo dục Hàn Quốc chiếm khoảng 70% trợ cấp chính phủ cho GDĐH, phần còn lại đến từ các Bộ khác do bên dưới những Bộ này cũng có những trường đại học trực thuộc. Từ năm 1992, hệ thống đánh giá và công nhận được áp dụng để đo lường khả năng cung cấp giáo dục chất lượng của các trường đại học nhận được hỗ trợ tài chính. Các trường đại học được đánh giá dựa trên các tiêu chí như: Số lượng cán bộ giảng dạy, cơ sở vật chất và thiết bị nghiên cứu, số lượng các luận văn và nghiên cứu, điều tra về mức độ hài lòng của sinh viên, đánh giá khóa học và nhận xét của hội đồng chuyên gia.

Một điểm quan trọng của chính sách phân bổ ngân sách nhà nước của Hàn Quốc là không phân biệt trường công lập hay tư thục. Ngân sách chính phủ cho các dự án như Dự án Brain Korea 21, Dự án University for Regional Innovationg (NURI), dự án chuyên môn hóa đại học và các dự án hợp tác được phân bổ thông qua cạnh tranh. Quy trình lựa chọn cạnh tranh bắt đầu bằng việc các trường đại học nộp các bản đề xuất dự án cho chính phủ. Một hội đồng xét duyệt, bao gồm các chuyên gia tư nhân, sẽ đánh giá kế hoạch dự án và xem xét cách thức các trường đại học những dự án xuất sắc nhất và cung cấp các khoản hỗ trợ tài chính cho trường đại học thực hiện dự án đó.

Ngoài ra, ngân sách cho GDĐH ở Hàn Quốc còn dựa trên “lựa chọn và tập trung”, thiên về người học hơn như: chương trình “Học trước, trả sau” cho sinh viên vay tiền của Bộ Giáo dục, dự án “Cho vay” được Chính phủ đảm bảo (Government – Guaranteed Loans Scheme – GGLS) của Bộ Giáo dục, dự án cho vay học phí không tính lãi suất của Tổ chức Nghiên cứu Hàn Quốc (Korea Research Foundation – KRF), dự án cho vay học phí cho công nhân của Bộ Lao động, dự án cho vay học phí của Quỹ tiền lương cho giáo viên (Korea Teachers Pension Fund – KTPF), dự án cho vay học phí cho nhân viên công cụ và con cái họ của Tổ chức tiền lương cho nhân viên chính phủ (Government Employees Pension Corporation – GEPCO) và dự án cho vay hỗ trợ học phí cho con cái của những công nhân thiệt mạng trong tai nạn lao động của Tổ chức Phúc lợi Công nhân Hàn Quốc (Korea Labor Welfare Corporationg  -  WELCO).

2. Bài học kinh nghiệm vận dụng cho Việt Nam về phương thức phân bổ ngân sách nhà nước cho GDĐH

Thứ nhất, Việt Nam nên học tập cơ chế phân bổ “lựa chọn và tập trung” của Hàn Quốc. Quy trình phân bổ ngân sách cho các cơ sở GDĐH dựa trên những đánh giá về chất lượng của trường đại học, bao gồm các tiêu chí như: Số lượng cán bộ giảng dạy, sự cung ứng cơ sở vật chất và thiết bị nghiên cứu, số lượng các luận văn và nghiên cứu, điều tra về mức độ hài lòng của sinh viên, đánh giá khoa học và nhận xét của hội đồng chuyên gia. Như vậy, các cơ sở GDĐH sẽ có động cơ để nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu. Hơn nữa, việc điều tra mức độ hài lòng của sinh viên cũng giúp các cơ sở GDĐH nắm bắt rõ nhu cầu, nguyện vọng của sinh viên để cải tiến chương trình đào tạo phù hợp với sinh viên, hướng tới việc nâng cao chất lượng đào tạo. Như trường hợp của Mỹ, cách phân bổ dựa các tiêu chí đo lường tình hình hoạt động cụ thể, chẳng hạn như tỷ lệ hoàn thành khóa học, hoàn thành tín chỉ, hoàn thành bằng cấp, thay vì phân bổ ngân sách chỉ dựa vào các số liệu nhập học.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế phân bổ ngân sách cho GDĐH ở Việt Nam như kinh nghiệm của Hàn Quốc về hỗ trợ cho các trường tư hoặc trường đại học công lập như nguyên tắc phân bổ ngân sách của Mỹ. Các khoản hỗ trợ của chính phủ thông qua các dự án được phân bổ dựa trên cơ chế cạnh tranh, không phân biệt giữa các trường công lập và tư thục cũng là một kinh nghiệm đáng để học tập. Cơ chế cạnh tranh sẽ thúc đẩy các trường đại học tập trung nâng cao trình độ chuyên môn, đưa ra những đề xuất dự án có ý nghĩa và tính khả thi cao. ở Hàn Quốc, việc không phân biệt giữa các trường công lập và tư thục tạo điều kiện cho các cơ sở GDĐH tư thục có cơ hội khẳng định thế mạnh và xây dựng danh tiếng, cũng như đóng góp ngày càng nhiều trong chi tiêu cho giáo dục, các trường đại học tư thục nên được tạo cơ hội và điều kiện để phát triển và khẳng định thế mạnh của mình, thông qua các dự án nhận được sự hỗ trợ của chính phủ. Cơ chế này tạo nên sự cạnh tranh giữa các trường đại học trong việc nâng cao hiệu quả giảng dạy và nghiên cứu, tạo nên thế mạnh nghiên cứu trong các lĩnh vực đặc thù, xây dựng thương hiệu và đội ngũ nghiên cứu mạnh, có tính cạnh tranh cao. ở Mỹ có sự phân bổ ngân sách tùy theo các đặc điểm thế mạnh của trường đại học để quyết định tỷ lệ vào phân bổ giữa các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ của trường.

Thứ ba, việc cấp các khoản ngân sách cộng gộp trọn gói cho các trường đại học tạo điều kiện cho các trường đại học sử dụng ngân sách để hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy mang tính đặc thù của trường, phát huy được thế mạnh và tính cạnh tranh của từng trường đại học. Tùy theo điều kiện của từng trường mà các khoản ngân sách sẽ được sử dụng vào các hoạt động khác nhau, như vậy hiệu quả sử dụng ngân sách sẽ cao hơn. Đây là một cơ chế hiệu quả, nên được tham khảo và học tập ở Việt Nam.

Thứ tư, Việt Nam nên xây dựng cơ chế phân bổ gián tiếp hỗ trợ các đối tượng đặc thù tham gia GDĐH như trường hợp của Hàn Quốc có các dự án cho vay dành riêng cho công nhân, con của nhân viên chính phủ, con của những công nhân thiệt mạng trong tai nạn lao động. Bên cạnh đó, huy động tối đa các nguồn lực của các đối tượng liên quan trực tiếp đến GDĐH như có các dự án cho vay từ: Tổ chức Nghiên cứu Hàn Quốc, Quỹ tiền lương cho giáo viên, Tổ chức tiền lương cho nhân viên chính phủ, Bộ Lao động.

Thứ năm, cơ chế phân bổ gián tiếp của Nhật Bản cũng là một kinh nghiệm tốt mà Việt Nam nên tiếp thu. Chính phủ Nhật Bản dành rất nhiều khoản ngân sách hỗ trợ theo các chương trình cụ thể, ví dụ như chương trình COE (Centre of Excellence), chương trình hỗ trợ cải cách giáo dục sau đại học, chương trình quốc tế hóa các trường đại học, … Chính phủ Việt Nam cũng nên dành các khoản hỗ trợ cho các chương trình, dự án trọng điểm nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy và học tại các trường đại học, cũng như đưa các trường đại học Việt Nam tới gần hơn với tiêu chuẩn của khu vực và thế giới.

3. Một số đề xuất gợi mở cho các trường đại học công lập Việt Nam

Qua thực tiễn tại một số quốc gia trên thế giới về quản lý tài chính trong lĩnh vực công nói chung và các trường đại học công lập nói riêng, có thể rút ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam như sau:

Thứ nhất, cơ chế quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam có mối quan hệ mật thiết và bị ảnh hưởng trực tiếp bởi mô hình quản lý nhà nước về tài chính trong các lĩnh vực công. Do vậy, để phân bổ NSNN cho các trường đại học công lập Việt Nam đạt được mục tiêu đề ra, cần phải xây dựng cơ chế quản lý tài chính trong lĩnh vực công phù hợp với thông lệ quốc tế.

Thứ hai, ở các nước trên thế giới cũng có các trường ĐHCL theo cơ chế quản lý của mỗi quốc gia, của ngành và của địa phương như của Việt Nam. Do đó, cần có phương thức phân bổ NSNN được quy định và phản ánh cụ thể trên cơ sở phương thức chung thống nhất nhưng có tính linh hoạt đối với những trường ĐHCL trực thuộc ngành và địa phương.

Thứ ba, qua kinh nghiệm quốc tế cần tăng quyền tự chủ và được chủ động trong huy động và sử dụng nguồn tài chính, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước, việc giao quyền tự chủ tài chính cần được gắn với tự chủ ở các hoạt động khác của trường đại học và đồng bộ trong việc thực hiện cơ chế tự của các trường ĐHCL.

Thứ tư, phân bổ ngân sách Nhà nước cho từng lĩnh vực, từng đơn vị cụ thể của các trường đại học công lập thì việc phân bổ ngân sách cần gắn với hiệu quả đầu ra, căn cứ vào kết quả kiểm định của Bộ giáo dục và đào tạo hoặc cơ quan kiểm định độc lập và xây dựng thang đo đánh giá chất lượng đào tạo cụ thể.

Thứ năm, hoàn thiện cơ chế phân bổ dự toán chi NSNN cho GDĐH ở Việt Nam hiện nay là việc lựa chọn mô hình phân bổ ngân sách “dựa trên đầu vào” trong nhiều năm đã không khuyến khích tính hiệu quả. Đó là một trong những biểu hiện của sự bất cập trong cơ chế quản lý NSNN trong GDĐH.

Thứ sáu, đa dạng hóa các nguồn tài chính tại trường đại học công lập. Có cơ chế, chính sách và tổ chức nhằm huy động nguồn lực từ các tổ chức xã hội, các hiệp hội và các doanh nghiệp vào hoạt động của nhà trường.

- Đối với các doanh nghiệp, là người trực tiếp sử dụng sản phẩm đào tạo, do đó nhà nước cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp hỗ trợ đào tạo. Bản thân các chủ doanh nghiệp đều nói rằng, doanh nghiệp sẵn sàng ủng hộ tài chính cho hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học của các trường đại học, song tiền ủng hộ đó cần được tính vào chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Vì thế, cần sửa đổi, bổ sung quy định tài chính, tính vào chi phí và miễn trong doanh thu tính thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp về những khoản ủng hộ các trường đại học trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học.

- Cần khuyến khích các quỹ hỗ trợ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của các trường đại học. Đối với các doanh nghiệp, hiện có một số doanh nghiệp tài trợ cho các trường thông qua việc trao học bổng cho sinh viên khá giỏi. Tuy nhiên, phạm vi, quy mô chưa đáng kể. Từ kinh nghiệm các nước phát triển, cần có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, các hiệp hội, các nhà hảo tâm xây dựng Quỹ hỗ trợ đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Chẳng hạn, cho phép quỹ mang tên những doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và cá nhân sáng lập và tài trợ.

Thứ bảy, tăng cường khai thác các nguồn vốn ngoài nước. Nhà nước tạo cơ sở pháp lý cho các trường đại học khai thác nguồn nước ngoài từ hoạt động hợp tác quốc tế bằng nhiều hình thức khác nhau: hợp tác nghiên cứu, đào tạo song phương, đa phương. Muốn vậy cần các trường đại học, cần phải:

- Nâng cao năng lực hợp tác quốc tế của đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ trong các trường đại học. Hiện nay, ở nhiều trường đại học đang gặp khó khăn trong việc hợp tác quốc tế về đào tạo và nghiên cứu khoa học. Vấn đề là ở chỗ các nhà khoa học đầu ngành khó khăn về ngoại ngữ trong khi số đông cán bộ khoa học trẻ, có trình độ về ngoại ngữ nhưng kinh nghiệm và trình độ khoa học còn hạn chế. Vì thế, để tăng cường năng lực hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu khoa học, một mặt các trường đại học cần có kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ, bổ sung những hạn chế của đội ngũ khoa học theo từng lứa tuổi, mặt khác cần có sự kết hợp giữa hai độ tuổi này để khai thác thế mạnh và khắc phục điểm yếu của mỗi độ tuổi.

Kết luận

Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, các quốc gia đều tìm kiếm những giải pháp nhằm gia tăng vốn đầu tư và hiệu quả sử dụng nguồn vốn cho GDĐH trong đó có vốn từ NSNN. Hầu hết, cả nước đều coi đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư cho tương lai. Sản phẩm của giáo dục và đào tạo là con người nên nguồn đầu tư không phải chỉ là khu vực nhà nước mà còn từ các khu vực khác (doanh nghiệp, tư nhân, liên kết với nước ngoài..). Do vậy, tài chính cho giáo dục dựa trên nguồn kinh phí đầu tư của toàn xã hội.

Qua nghiên cứu kinh nghiệm từ một số nước, có thể thấy trách nhiệm vai trò đổi mới cơ chế quản lý tài chính không chỉ phụ thuộc vào nhà nước mà đòi hỏi chính các trường ĐHCL cũng phải nỗ lực, linh hoạt vận động trong quá trình tìm kiếm và quản lý hiệu quả nguồn tài chính cho phát triển nhà trường.

Trên cơ sở khái quát những vấn đề cơ bản phương thức phân bổ NSNN và chính sách học phí đối với GDĐH, để tìm hiểu kinh nghiệm một số nước có nền GDĐH tiên tiến và một số nước có nhiều nét tương đồng ở Việt Nam. Qua đó, đã rút ra những bài học cần thiết về cơ cở hỗ trợ NSNN và cơ chế phân bổ NSNN cũng nhưng hoạch định chính sách học phí đối với GDĐH và gợi mở cho đổi mới cơ chế quản lý tài chính ở Việt Nam trong quá trình đổi mới ĐHCL, để hội nhập và phát triển./.

 

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đề án đổi mới cơ chế tài chính giáo dục, giai đoạn 2009-2014, 5/2009.

2. GDĐH Việt Nam (2003), NXB Giáo dục, Hà Nội.      

3. Phùng Xuân Nhạ và các cộng sự (2012), Đổi mới cơ chế tài chính hướng tới nền GDĐH tiên tiến, tự chủ, Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới cơ chế tài chính đối với GDĐH, ủy Ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội, Bộ Tài chính và UNDP đồng tổ chức tại Hà Nội, tháng 11/2012.

4. Chen Shen, (2007), The diversification of Chinas higher education funding 1996-2003, Master Thesis, The University of British Columbia.

5. Fengliang, L. (2012), “Financing higher education: lessons from China”, Irish Educational Studies.

6. Kim, T. (2008), Higher Education Reforms in South Korea Public- Private Problems in Internationalising and Incorporating Universities. Policy futures in education, 6(5), pp.558-568.

7. Li, Wenli. (2005), Private Expenditures, Family Contribuitions and Financial Aid. Need Analysis in Higher Education. Paper presented at the International Conference on Higher Education Finance: Cost, Access and Assistance. Huazhong University of Science and Technology, Wuhan, China. May 2005.

8. Marcucci, P. and Johnstone, D.B (2007), Tuition Policies in a Comparative Perspective: Theoretical and Political Rationales. Journal of Higher Education Policy and Management, 29(1),pp.25.40.

9. Marcucci, P. and Usher, A. (2012), 2011 Year in Review: Global Changes in Tuition Fee Policies and Student Financial Assistance. Toronto: Higher Education Strategy Associates.

10.  Maruyama, F. (2012), Finacing universities in Japan, Cycles of University Reform: Japan and Finland compared, Centre of University Finacing and Management, Japan, pp.13-31.

11. MEXT, (2009), National Polices Concerning Lifelong Learning.

12. MEXT, (2014), Higher education in Japan (guide book), Available at: http://www.mext.go.jp/english/highered?1302653.htm, Accessed at: 6/5/2014.

13. Miao, K. (2012), Performance – based Funding of Higher Education: A detailed look at best practices in 6 states. Center for American Progress.

14.  Millot, B. (2012), Are countries inverstments difference? Dicussion Paper Series Report Sector, World Bank, Washington DC.

15. Ministry of Education, (2013), List of Chinese Higher Educationg Institutions.

16. Oba, J. (2005), “Current State and Problems of Japanese Higher Education”, Research Insitute for Higher Education, Hiroshima University.

17. OCED (2009). OECD Reviews of Tertiary Education: Mexico.

18. OECD (2012). Education Indicators In Focus, 2012/02 (February).

19. OECD (2012a). OECD Education at a Glance 2012, Country note: Japan, OECD, Paris. Available at: http://www.oecd.org/japan/EAG201220-20Country20note20-20Japan.pdf. Accessed at: 20/9/2014.

20. OECD (2013). OECD Education at a glance: OECD Indicators. Available at: http://www.oecd.org/eag2013200 . Aceessed at: 23/9/2014.

21. Sexton, T.R., Comunale, C.L., and S.C. Gara. (2012), Efficiency- based funding for public four-year colleges and universities. Education Finace and Policy, 7(3), pp.331-359.

22. Shen, H., and Li, W. (2004), A Review of the Student Loan Scheme in China. Bangkok/Paris: UNESO Bangkok/International Institute for Educational Planning.

23. State Higher Education Excutive Officer, (2014), State higher education finance, FY 2013,  Available at: http:// www.sheeo.org/sites/default/files/publications /SHED_FY13_04292014.pdf

24. The College Board (2013), Trends in Student Aid 2013, Trends in Student Aid Series, Washington, DC: The College Board. Available at: http://trends.collegeboard.org/sites/default/files/student-aid-2013-full-report-140108.pdf. Accessed at:  10/10/2014.

25.  United Nations Development Programme (UNDP) (2010), Human Development Report, Oxford Unversity Press, New York.

26. World Bank, (2012b), Taking Stock: An Update on Vietnams Recent Economic Development, Report, June, p.4.

Theo Tạp chí Kế toán và Kiểm toán của Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam(VAA) Đặng Thành Dũng * Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội

 

Xem thêm
Khái quát về kế toán điều tra và sự cần thiết nghiên cứu về kế toán điều tra

Khái quát về kế toán điều tra và sự cần thiết nghiên cứu về kế toán điều tra

Ảnh hưởng từ cách mạng công nghiệp 4.0 đến thông tin kế toán trong doanh nghiệp

Ảnh hưởng từ cách mạng công nghiệp 4.0 đến thông tin kế toán trong doanh nghiệp

Doanh thu kế toán và doanh thu tính thuế theo chương trình dành cho khách hàng truyền thống

Doanh thu kế toán và doanh thu tính thuế theo chương trình dành cho khách hàng truyền thống

Một số vấn đề về Thuế đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông sản, hải sản

Một số vấn đề về Thuế đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông sản, hải sản

Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm nâng cao chất lượng báo cáo tài chính tại Khu vực công Việt Nam

Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm nâng cao chất lượng báo cáo tài chính tại Khu vực công Việt Nam

Đối tác
ACCA
CPA AUSTRALIA
ICAEW
Quảng cáo
Fast Accounting Online
CIMA
RSM DTL Auditing – Member RSM network
Tổng công ty du lịch Sài Gòn | Saigontourist
Smart Train
CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN & TƯ VẤN CHUẨN VIỆT
Đại Học Ngân Hàng - Thành Phố Hồ Chí Minh
Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh